Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Viết về Châu Thành

Ký ức lúa mùa

(08:46 | 27/07/2017)

 Sáng nay trời se lạnh. Gió thổi làm cành lá xạc xào. Gió bấc non, báo hiệu một mùa bấc mới đã tới. Cứ đến thời điểm này là tôi lại nhớ về một miền ký ức xa xăm của thời niên thiếu. Tôi không siêng để ghi lại những kỷ niệm đáng nhớ ấy nhưng hôm nay chính cái lạnh đầu mùa đã thôi thúc tôi phải lưu lại những gì đáng nhớ để cho mình và con cháu mai sau, bởi vì hiện tại những thứ đó đã không còn nữa: ký ức lúa mùa.

                                        1a_dqpo.jpg

                                                                                                               Ảnh sưu tầm, minh họa

Ngày trước, vùng nông thôn quê tôi, người ta chỉ trồng có một vụ lúa mỗi năm với hai đợt thu hoạch gọi là lúa mùa sớm và lúa mùa chính vụ. Sau này được học chuyên ngành nông nghiệp tôi mới biết đó chính là do hiệu ứng quang cảm ánh sáng. Những giống nhạy cảm cao, khi khí hậu mới bắt đầu bước sang chu kỳ ngày ngắn thì đã chuẩn bị trổ bông, đó chính là lúa mùa sớm; những giống ít nhạy cảm thì chờ đến khi ngày gần như ngắn nhất trong năm mới chịu trổ gọi là lúa mùa chính vụ.

Những giống mùa sớm mà tôi biết lúc đó là Sa Quay, Nếp Thơm, Nếp Hà Tiên thu hoạch vào khoảng tháng Chín âm lịch. Phải chăng điều này chính là cơ sở cho lễ hội Oc Om Bok của người Khmer Nam bộ diễn ra vào đầu tháng Mười với ý nghĩa mừng lúa mới thông qua hình thức lễ cúng trăng và phần hội là đút cốm dẹp và đua ghe ngo? Lúa Sa Quay có thân cao lớn như lúa mùa chính vụ, trẻ em chơi trốn tìm mà chun vào đây thì khó mà kiếm được. Gạo thuộc loại hạt dài, trong, chất lượng nằm ở mức trung bình, hơi cứng cơm nên có thể sử dụng làm bún được. Nếp thơm thì không cao bằng, gốc thân có màu tim tím, lá xanh đậm, võ trấu có màu nâu sậm, hạt gạo dài, đục, thơm ngon lắm. Có lẽ từ khi gieo hạt mọc lên thành cây đến khi thu hoạch lúc nào nó cũng tỏa ra một mùi hương thơm ngát nên gọi là nếp thơm. Nếu ai đi ngang một cánh đồng phía dưới gió sẽ biết cánh đồng đó có trồng nếp thơm hay không. Nếp thơm dùng để nấu xôi, chè hay làm bánh gì cũng ngon nhưng đặt biệt nhất là làm cốm dẹp trong những ngày Oc Om Bok. Nếp Hà Tiên hơi thấp cây hơn, cọng thân hơi nhỏ và có màu hơi nâu với một số sọc đen, hạt nhỏ hơn, có màu nước trà với những sọc xuôi, đặc biệt là đuôi hạt hơi quớt. Tuy cây và hạt giống này không thơm như Nếp thơm nhưng chất lượng thì nhỉnh hơn một chút. Nếp Hà Tiên mà đem đi gói bánh tét và làm bánh in thì ít có giống nào qua mặt được. Một số ít hộ nông dân có đầu óc kinh doanh chuyên làm nếp sẽ có thu nhập gấp rưởi so với làm lúa.

Từ giữa những năm 70, người ta đưa thêm vào một số giống lúa lai có nguồn gốc từ Trung tâm nghiên cứu lúa gạo quốc tế (IRRI) đóng ở Phi Luật Tân như Thần nông 5 (IR 5), Thần nông 8 (IR 8), có thời gian sinh trưởng tương đương các giống mùa sớm chứ không có ảnh hưởng quang kỳ.

Trong các giống lúa mùa chính vụ, thiết nghĩ, cũng nên nói trước về các giống nếp cho nó liên hoàn. Chín trước tiên là nếp Than Tàu. Giống này có thân cao to, lá lớn, kềnh càng nên dễ ngã, hầu như ruộng nào trồng cũng bị ngã, hạt hơi mập không xếp vào nhóm dài được, võ trấu màu sậm đen có gân, ruột bên trong cũng nâu đen, chất lượng tương đối, thường dùng để nấu xôi, thỉnh thoảng gói bánh, đặt biệt nhất là làm lão tửu. Lão tửu làm bằng nếp Than Tàu đãi đám cưới người ta thường làm trước khoảng 2 tháng, còn làm để tự thưởng thức thì để hơn 100 ngày uống mới ngon, có người còn đem chôn dưới đất để điều hòa âm dương uống càng ngon hơn nữa. Rượu này uống vào ngòn ngọt, không gắt, chậm say nhưng khi say thì té cắm đầu vẫn chưa nghĩ mình say!

Nếp Máu Lươn, có lẽ do màu vỏ đỏ như máu lươn nên có tên gọi như vậy. Giống này thân trung bình, thích ở đất hơi lung, chất lượng khá nhưng năng suất không cao lắm. Nếp Mù U và Nếp Ruồi gần giống nhau với màu hạt hơi sạm nâu, về chiều cao thì nếp mù u hơi cao hơn 1 chút. Chất lượng hai giống này cũng khá, dùng để làm các loại bánh hay nấu xôi đều được. Một giống nếp cuối cùng mà tôi biết là Nếp Phật. Hổng biết từ đâu có tên gọi này. Đây là giống được thu hoạch sau cùng trong các giồng nếp. Từ đặc điểm này người ta sử dụng nó để gieo mạ cấy lấp vụ lại trên nền đất lúa Sa Quay để tận dụng đất. Giống này thân hơi cao, cứng, ít đỗ ngã, vỏ màu vàng trà. Chất lượng nếp ruột thấp nhất trong các giống nếp, công dụng chính là nấu rượu. Thật ra chỉ có Nếp Phật mới cho ra được loại rượu đế với chất lượng số 1 ở vùng đất Kiên Giang này mà thôi! Ai đã từng uống rượu đế nấu bằng Nếp Phật rồi thì bây giờ lúc nào cũng cảm thấy luyến tiếc vì không còn gặp lại nữa!

Các giống lúa mùa chính vụ phân hóa đòng khi chu kỳ ngày ngắn đến đỉnh cao (như ông bà mình hay nói: tháng Năm chưa nằm đã sáng, tháng Mười chưa cười đã tối) và bắt đầu trổ từ đầu tháng Mười Một âm lịch để đầu tháng Mười Hai thì chín. Thời kỳ lúa trổ cũng là thời kỳ gió bấc tăng cường, nước bốc hơi nhanh, theo tập quán sống, các loại cá đồng dạng trung bình và nhỏ tìm đường trở về nguồn, chứ mấy con cá lớn, cá bố mẹ thì khôn lắm, khi nước tháng Mười tràn đồng thì nó đã đi rồi. Người ta lợi dụng điều này để làm bẩy bằng cách đào những cái lỗ trên bờ đê dự kiến cá sẽ đi qua (gọi là hố nhảy) sau đó đi xuống sông múc sình non tha vào miệng hố để chúng tưởng chỉ cần nhảy nhẹ một cái là đến sông rồi, nhưng chúng đâu ngờ…Thường cá nhảy hố vào lúc đầu hôm và sáng sớm, ban ngày cũng có nhưng ít. Vì vậy mấy chủ hố cứ chiều đến là tha sình non miệng hố rồi canh bắt trong đêm, ban ngày để mặc cho bọn trẻ tha hồ chạy tới chạy lui tìm bắt. Tay chân đứa nào đứa nấy móc cời vì đóng bùn và vì da khô do trời lạnh mà ít hơi nước, dù kỳ cọ đến cở nào cũng hổng hết nhưng hổng đứa nào chịu bỏ cuộc từ ngày này qua ngày khác. Những người có kinh nghiệm làm hố mỗi mùa gió bấc, ngoài cá bán hàng ngày ở chợ còn có cá làm mắm cả khạp da bò chứ chẳng chơi.

Giống lúa được thu hoạch đầu tiên trong nhóm lúa mùa chính vụ là lúa ba bụi. Thân lúa cao trung bình, đẻ nhánh khá trong điều kiện thâm canh nhưng do hạt tuy dài nhưng hơi thon nên năng suất chỉ ở hạng khá. Chất lượng gạo thuộc loại ngon. Thời điểm thu hoạch giống này trùng với lúc trên đồng bắt đầu kiệt nước và gió bấc trở nên lạnh hơn (gọi là bấc già), vì vậy rơm của nó thường được người ta dùng để nướng mấy con cá bị kẹt lại sau đợt nước tràn đồng vào tháng Mười và cũng hổng chịu nhảy hầm dù đã bị dụ hết mức (cũng có khi mấy chú này mê chốn ruộng đồng nên hổng chịu về nơi sông suối). Giữa đồng ăn cá nướng rơm với muối ớt thì còn gì bằng. Đến chiều khi xong việc đồng áng, những anh thanh niên còn cố gắng đội một bó rơm to về nhà để sáng sớm cánh phụ nữ và trẻ em còn có cái để sưởi ấm khi quần áo lành lặn còn thiếu thốn, mùng mền không đủ ấm trong lúc bấc già lạnh thấu xương khoảng từ 4 đến 6 giờ sáng.

Tiếp theo là giống Một Bụi, hạt hơi to hơn một chút và đuôi hạt hơi quớt nên năng suất có nhỉnh hơn, chất lượng cũng thuộc loại ngon; Rồi giống Chim rơi, có người gọi là Móng Chim rơi, hạt như Một Bụi nhưng màu sáng hơn, chất lượng cũng nhỉnh hơn. Giống Trắng tép hạt thon dài, nhỏ nhắn, màu sáng nhất và chất lượng cao nhất. Một tô cơm gạo trắng tép có thể giải quyết bằng mấy muỗng nước mắm Phú Quốc là xong ngay. Những người kinh nghiệm cho rằng: giống nào mà đuôi quớt thì chắc ăn là ngon cơm không cần bàn cải. Hai giống Ba Vội, Ba túc có hạt hơi dài, màu vàng trà giống như Nếp phật (giống Ba Túc hơi sậm hơn Ba Vội). Giống này hơi cứng cơm, chất lượng trung bình, năng suất khá nhưng đáng chú ý là hột đóng vào bông chắc hơn các giống khác nên phải đập vào ghế nhiều cái hơn hạt mới rớt ra hết.

Việc thu hoạch lúa mùa hồi đó chủ yếu là cắt, bó bằng vòng gặt tay (vòng gặt của người Khmer thì giống số 2, của người Kinh thì giống số 1, hổng có ai cắt lúa mùa bằng lưỡi hái (liểm) như bây giờ) rồi gom về sân đập. Người đập dùng cặp đập lúa (tức 2 đoạn cây ngắn khoảng 4 tấc kích cở vừa tay cầm, liên kết với nhau bằng quai được thắt theo kiểu dây thừng để khi xoay bó lúa ít bị vuột ra. Quai thắt bằng rơm nhìn đẹp nhưng mau đứt, dùng lưới đánh cá của mấy ghe biển bỏ ra là tốt nhất) để kẹp bó lúa đập xuống ghế, sau khi đập 2 cái thì xoay một lần. Ghế đập lúa là một miếng ván dày từ 4 đến 6 tấc, ngang 5 tấc, dài 1,2 mét, một đầu có chân cao 6-8 tấc và một đầu không chân để có độ dốc khi lúa rơi ra khỏi rơm thì có khuynh hướng rớt xuống đầu thấp và hai bên ghế. Nếu giống ít dai (gọi là lúa muối) thì đập từ 6-8 cái rồi quăng về cuối sân cho người dũ rơm, nếu giống dai thì phải đập từ 8-10 cái (thậm chí 12-14 cái) mới quăng. Người giỏi thì đập từ sáng đến 12 giờ rồi một thiên (1.000 bó) xem như hoàn thành một ngày công lao động, người kém thì 1 hoặc 2 giờ chiều mới rồi.

Thu hoạch sau cùng là lúa Trắng Lùn một giống lúa mùa cứng cây, hột ngắn, được xếp vào lúa ngang, năng suất khá nhưng cứng cơm. Giống này đem làm bún thì sẽ có một sợi bún dai và ngon không ai bằng. Về sau trên đồng ruộng quê tôi người ta còn bổ sung thêm giống lúa Lùn Cẩn, có các đặc điểm gần giống như Trắng Lùn nhưng cọng ra hơi nhỏ hơn một chút và năng suất cũng nhỉnh hơn.

Có lẽ tôi là một người nông dân hạnh phúc vì được sinh ra trong buổi giao thời giữa một sự cân bằng này đang bị phá vỡ để một sự cân bằng mới sắp sữa ra đời. Cơ cấu giống thay đổi dẫn đến mùa vụ và tập quán canh tác thay đổi theo. Chúng ta đi từ nền văn minh lúa nước, khi tập quán canh tác thay đổi thì cách nghĩ, cách sống cũng phải thay đổi. Biết rằng cuộc sống là phải luôn hướng về phía trước; biết rằng đời sống nông dân hôm nay cũng đã có bước chuyển mình, nhưng sao lòng vẫn thấy buồn, thấy nhớ và đôi khi tiếc về những thứ quá đẹp của ngày xưa. Có lẽ tôi đang say!


Lê Quốc Việt - Phòng NNPTNT Châu Thành