Cổng thông tin điện tử Kiên Giang

Viết về Châu Thành

HÁT DÙ KÊ Ở CHÂU THÀNH, KIÊN GIANG: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ!

(08:21 | 05/09/2016)

 Châu Thành là huyện nằm trong vùng Tây Sông Hậu thuộc tỉnh Kiên Giang. Phía Bắc giáp huyện Tân hiệp và huyện Giồng Riềng; Phía Nam giáp huyện An Biên và huyện Gò Quao; Phía Đông giáp huyện Giồng Riềng và huyện Gò Quao; phía Tây giáp Thành phố Rạch Giá. Diện tích tự nhiên toàn huyện 28.515 ha được chia thành 9 xã và 1 thị trấn.

 Trong cộng đồng các dân tộc sinh sống trên địa bàn huyện, đồng bào dân tộc Khmer là một trong ba dân tộc chủ yếu, chiếm 30,5 % và là dân tộc có mặt sớm ở vùng đất này với truyền thống văn hóa phong phú, đa dạng, trong đó có nghệ thuật hát Dù Kê.

Theo các bậc tiền bối, những người đã từng là trưởng đoàn, thầy tuồng, diễn viên… đều cho rằng nghệ thuật hát Dù Kê trên địa bàn huyện bắt nguồn từ Đoàn Khol Bassac. Theo ông Danh La, hiện cư ngụ tại Khu phố Minh Long, thị trấn Minh Lương, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang. Đoàn Khol Bassac do ông Xã Cọl, người ở Sóc Trăng thành lập đoàn tại Trà Vinh vào cuối những năm 1930s. Lúc đó chưa có tên gọi Dù Kê mà chỉ gọi chung là đoàn hát. Đoàn đã từng đi lưu diễn và được chào đón nồng nhiệt ở Campuchia, Thái Lan. Tại huyện Châu Thành, Đoàn Khol Bassac đã trình diễn hai lần: lần thứ nhứt vào đầu những năm 1940s và lần thứ hai vào đầu những năm 1950s với tên gọi khác là Đoàn Tự Lập Ban. Đây chính là nguồn cảm hứng, là ngọn lửa thôi thúc các đoàn Dù Kê không chuyên của từng xóm ấp có đông đồng bào dân tộc Khmer ra đời.

Đoàn hát đầu tiên trên địa bàn huyện là đoàn Cà Đao (nay thuộc ấp Vĩnh Đằng, xã Vĩnh Hòa Phú) được thành lập vào năm 1950 do ông Tà Sên (tên gọi khác là Kiểm Sên) làm trưởng đoàn. Sau năm 1954 đoàn này tự giải tán do ông Tà Sên bị tai nạn rồi mất.

Sau năm 1960, mặc dù trong hoàn cảnh chiến tranh ngày càng ác liệt, nhưng nhu cầu về đời sống văn hóa của đồng bào vẫn thúc đẩy sự ra đời của các đoàn Dù Kê không chuyên như đoàn Minh Phú (xóm Cù Là, nay thuộc Thị trấn Minh Lương) do ông Danh Võ làm trưởng đoàn; đoàn Thạnh Bình (xóm Tà Bết, nay thuộc xã Thạnh Lộc) do ông Danh Pen làm trưởng đoàn; Đoàn Bon Sa (xóm Bon Sa, nay thuộc xã Giục Tượng) do ông Danh Mốt (thường gọi là Ke Mốt) làm trưởng đoàn. Đến năm 1968 do chiến tranh đã bước sang thời kỳ ác liệt nên hầu như tất cả các đoàn đều tự động giải tán không còn biểu diễn nữa.

Sau hiệp định Pari năm 1973, ưu thế chiến trường thuộc về lực lượng cách mạng, tình hình chiến sự trên địa bàn huyện có chiều hướng giảm đáng kể. Đó chính là điều kiện xuất hiện trở lại của các đoàn Dù Kê với quy mô lớn hơn, có tính chuyên nghiệp hơn, phạm vi biểu diễn đã thoát ra khỏi ranh giới xóm làng như đoàn Châu Hòa Long (xóm Capohe, nay thuộc Khu phố Minh Thành, Thị trấn Minh Lương) do ông Danh Chốt làm trưởng đoàn, đoàn Tia Sáng (Đoàn Bon Sa tái lập), đoàn Tân Hưng (xóm Giữa, nay thuộc ấp Tân Hưng, xã Giục Tượng) do ông Danh Liêm làm trưởng đoàn.

                          04-nghe-thuat-19011-450-10517.jpg

                                                                         Hình ảnh minh họa

 

  Sau năm 1975, trong không khí phấn khởi chung của cả nước vừa giành được độc lập, hòa bình, thống nhất Tổ Quốc, bên cạnh những đoàn Dù Kê đang hoạt động, rất nhiều đội Dù Kê không chuyên của từng xóm ấp lần lượt ra đời như: Vĩnh Đằng (xã Vĩnh Hòa Phú), Minh Phong, Xà Xiêm (xã Bình An), Minh Hưng, Gò Đất (xã Minh Hòa), Minh Phú (Thị trấn Minh Lương), Thạnh Bình (xã Thạnh Lộc-tái lập), Cù Là (tái lập), So Đũa (xã Vĩnh Hòa Hiệp)…

Có thể nói rằng giai đoạn 1976-1982 là thời kỳ cực thịnh của nghệ thuật dù kê trên địa bàn huyện Châu Thành để rồi sau đó, dưới tác động của hai cuộc chiến tranh ác liệt ở hai đầu biên giới lôi cuốn biết bao thanh niên lên đường bảo vệ Tổ Quốc, tác động của khủng hoảng kinh tế xã hội trên phạm vi cả nước diễn ra ngày càng gay gắt làm cho đời sống của người dân cả thành thị và nông thôn gặp nhiều khó khăn và chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng mùa vụ đã làm cho các đội Dù Kê dần dần biến mất.

Hầu hết các đội Dù Kê trên địa bàn huyện đều mang tính chất “cây nhà lá vườn”, ông bầu (trưởng đoàn) là người có uy tín, có tâm huyết với nghệ thuật này, có chút “vốn liếng” ban đầu và có khả năng vận động người khác cùng tham gia. Một đội phải có ít nhất là 12 diễn viên (không kể những người đảm nhận các công việc khác như nhạc công, quân sĩ, kéo màn…), nhiều nhất có khi trên 30 diễn viên. Các diễn viên chủ yếu cũng là người tại chổ, đôi khi từ quan hệ hôn nhân hay thân tộc nên cũng có những diễn viên có nguồn gốc từ Trà Vinh hay Sóc Trăng. Đối với những diễn viên trẻ, nhất là nữ, nhiều trường hợp ông bầu phải đến tận nhà để xin cha mẹ cho con tham gia. Tùy theo vai trò, vị trí đảm nhận trong đội mà mỗi người tự mua sắm dụng cụ, trang phục riêng cho mình như mão, dây đay, dây đeo, quần áo….Những buổi diễn của các đội Dù Kê trên địa bàn  huyện từ trước đến nay không bao giờ có bán vé. Sau mỗi đêm diễn các xóm hay chùa đăng cai thường vận động mạnh thường quân hỗ trợ cho đoàn một ít tiền son phấn, xà bông, một bữa ăn tối, ngoài ra không có thù lao gì khác. Sự gắn bó của các thành viên với đội chính là niềm đam mê đối với môn nghệ thuật này.  

Đối với các vật dụng, máy móc, thiết bị dùng chung như: đàn, trống, dàn ngũ âm, màn, máy đèn, cây-ván dựng rạp… do ông bầu vận động mạnh thường quân hay nhà chùa ủng hộ. Về sân khấu, thông thường xóm nào tổ chức cúng cầu an có mời đội Dù Kê đến hát thì người dân xóm đó có bổn phận giúp làm sân khấu theo yêu cầu của đội. Nếu hát ở chùa thì ban quản trị chùa phân công người của các bổn sóc giúp đỡ. Sân khấu thường được cất cao khoảng một mét so với mặt đất, mặt lót ván, có khung cột cao để căng màn và làm cánh gà.  Chổ ngồi của các nhạc công thường nằm phía trước, chếch một bên và thấp hơn sân khấu. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển thì các dụng cụ, máy móc, thiết bị phục vụ nghệ thuật Dù Kê cũng không ngừng tiến bộ. Về ánh sáng, lúc đầu thì các đội xài đèn măng sông (hi hữu gặp sự cố thì đốt đuốc lên hát đỡ) sau sử dụng máy dầu kéo đinamo phát điện, hoặc như micro, lúc đầu sử dụng điện bình, sau sử dụng điện máy phát, nhưng lúc đó chỉ có loại có dây nên người ta phải treo 02 cái micro lủng lẳng trên sân khấu, đến vai nào hát (hoặc nói) thì người bên trong sẽ dùng dây kéo cái micro gần nhất lại cho vai đó, không phải như bây giờ đã có loại micro cầm tay không dây hay loại nhỏ gọn đeo vào nút áo.

Về vở diễn, thường được xây dựng dựa trên các cốt truyện cổ tích trong dân gian. Những năm sau giải phóng cũng có đoàn mạnh dạn xây dựng và biểu diễn những vở xã hội. Tuy nhiên loại này không nhiều do đòi hỏi trình độ thầy tuồng khá cao và ít thu hút người xem. Dù là thể loại nào, mục đích của các vở diễn đều đề cao đạo đức, lẽ phải, cổ vũ điều thiện, phê phán thói hư tật xấu, lối sống ích kỷ, cá nhân, bác bỏ điều ác. Mỗi vở diễn sử dụng rất nhiều làn điệu dân ca để biểu cảm, tùy theo vai và ngữ cảnh mà một làn điệu nào đó được sử dụng. Những thầy tuồng giỏi có thể tự viết kịch bản cho đoàn mình, nhưng số này không nhiều, số còn lại sử dụng những vở đã được đoàn khác diễn trước. Để biểu diễn được trên sân khấu, mỗi vở thường được tập dợt khoảng nữa tháng, khi đến ngày diễn cũng phải thử lại trước. Trong thời gian đầu, các vở được chú trọng tập trung vào diễn biến của cốt truyện còn về lời thoại phụ thuộc rất nhiều vào tài năng và cảm xúc của diễn viên. Diễn viên có hiểu biết rộng, xử lý tình huống nhanh sẽ hát hay (nhờ  cương giỏi!). Dần dần về sau, thầy tuồng yêu cầu diễn viên học thuộc lời thoại đồng thời khi biễu diễn thầy tuồng đứng sau cánh gà để nhắc khi diễn viên quên, hát cương chỉ còn là độc quyền của vai hề (à mas), nhưng cương cũng phải có chừng mực, nếu quá lố coi chừng khán giả bỏ về.

Cứ vào tháng giêng, tháng hai âm lịch, mùa khô đã đến và mùa lúa cũng đã xong, lễ cúng cầu an của người Kinh hay người Khmer chủ yếu diễn ra vào thời điểm này nhưng chỉ ở lễ cúng của người Khmer mới có hát dù kê và khán giả không chỉ đồng bào người Khmer mà có cả người Kinh và người Hoa. Sau một năm làm lụng vất vả, đây là thời điểm để mọi người vui chơi, giải trí để chuẩn bị cho một năm sản xuất mới. Vì vậy mà khán giả của nghệ thuật Dù Kê là không phân biệt tuổi tác, nam nữ. Thường buổi diễn bắt đầu vào lúc 10 giờ đêm, sau khi nhà sư tụng kinh xong và diễn đến 1-2 giờ sáng mới hết tuồng nhưng khoảng 4-5 giờ chiều là đã có người mang đệm, chiếu ra trước sân khấu để “đặt chỗ”. Buổi chiều trước khi diễn, nhạc công thường đến sớm để kiểm tra nhạc cụ và chơi một vài điệu nhạc khởi động chương trình. Khi tiếng trống, tiếng ngũ âm cất lên là nhiều người cảm thấy lòng nôn nao, cái chân chỉ chực chạy nhanh ra nơi sân khấu! Những khán giả là trẻ em thường đi theo bà, theo mẹ hay theo chị, lúc đầu hôm hay đòi mua quà bánh và chạy giỡn tung tăng quanh sân khấu, đến khi đoàn bắt đầu hát chúng đã ngủ ngon lành trong vòng tay của người thân nhưng khi vai chằng xuất hiện trong tiếng quát, tiếng gầm và tiếng trống dồn thì bảo đảm rằng chúng tỉnh rụi và theo dõi hết sức chăm chú và khi vai chằng kết thúc mắt chúng lại lim dim. Khán giả thanh niên cũng thích xem hát dù kê nhưng các anh trai thường bị cơn buồn ngủ khuất phục nên hơn phân nữa là không theo được hết tuồng. Khán giả trung niên và những người luống tuổi chính là những khán giả trung thành của các đội Dù Kê. Chính họ là nguồn cảm hứng cho các diễn viên dốc hết khả năng và sức lực của mình từ đêm này qua đêm khác!

Người ta đi xem Dù Kê với mục đích chính là để giải trí. Nhưng nghệ thuật Dù Kê không chỉ mang lại tiếng cười, niềm vui với vai chằng, vai hề mà nó còn mang lại cho người xem niềm tin, lòng trắc ẩn trong cuộc sống qua xung đột giữa hai tuyến nhân vật thiện và ác. Đêm diễn kết thúc, màn đã khép lại nhưng trên con đường về nhà, ngay cả khi nằm xuống ngủ, người xem lại nhớ, lại suy nghĩ để củng cố niềm tin chắc chắn rằng làm điều thiện sẽ gặp phước, làm điều ác sẽ gặp quả báo và lòng nhân ái trong mỗi con người cũng được hun đúc sau mỗi lần xem. Từ đó người ta sẽ nhắc nhở nhau và dạy cho con cháu mình hãy sống đúng những niềm tin như vậy. Đó chính là tính giáo dục rất cao của nghệ thuật Dù Kê, đồng thời với thành phần khán giả phong phú như đã nêu thì nghệ thuật Dù Kê còn mang tính cố kết cộng đồng mà chúng tôi cảm nhận được trong thời gian qua trên địa bàn huyện.

Từ sau năm 1984, hầu như không còn đội Dù Kê nào trên địa bàn huyện hoạt động. Đây chính là sự mất mát, là thiệt thòi lớn trong đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer. Ngày nay, những người tâm huyết với nghệ thuật này không thiếu, những người đã từng là trưởng đoàn, thầy tuồng, diễn viên, nhạc công vẫn còn dù không nhiều và đã lớn tuổi nhưng bối cảnh xã hội nông thôn đã không còn như trước. Cánh đồng trơ rạ vào mùa khô trước đây đã thay bằng cánh đồng lúa Đông Xuân xanh mướt; Người nông dân ngày xưa mỗi năm một vụ lúa, rảnh rổi lúc nông nhàn, bây giờ quanh năm ba vụ lúa với những người trung niên, người già, còn người trẻ tuổi đã đi ra thành thị, vào nhà máy, xí nghiệp gần hết để đáp ứng nhu cầu cuộc sống ngày một tăng cao; do nhịp sống ngày càng nhanh nên lễ cầu an bây giờ cũng được rút ngắn xuống 2 ngày 1 đêm chứ không kéo dài 2-3 đêm như trước…. Chính từ những lý do trên mà nhiều địa phương đã bỏ cuộc trong việc tái lập các đội Dù Kê không chuyên. Vào năm 2006, với sự nổ lực của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và những người tâm huyết, Đội Dù kê xã Giục Tượng, huyện Châu Thành ra đời. Được sự giúp đỡ ban đầu của Đoàn Nghệ thuật Khmer tỉnh, Đội Dù kê xã Giục Tượng đã hoạt động khá tốt, biểu diễn phục vụ nhân dân địa phương vào các dịp lễ lớn như Dolta, Chosanamthomay… và đã từng biểu diễn phục vụ ngoài địa phương như xã Bàn Thạch (Giồng Riềng), Phường An Bình (Thành phố Rạch Giá). Nhưng do khó khăn từ nhiều phía, nhất là từ cuộc sống của nhiều diễn viên trẻ, nên đến năm 2008, Đội Dù kê xã Giục Tượng cũng đã tự giải tán.

 Từ bài học của Đội Dù kê xã Giục Tượng, chúng tôi cho rằng việc thành lập lại các đội Dù Kê không chuyên dù rất khó khăn nhưng không phải là không thể. Theo chúng tôi, muốn làm được cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:

Một là, cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa và Cấp ủy, chính quyền cơ sở phải thống nhất nhận thức rằng việc lập lại các đội Dù Kê không chuyên ở những địa phương có đông đồng bào dân tộc Khmer để đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần và giữ gìn nét đẹp, nét đặc sắc trong văn hóa dân tộc Khmer là rất cần thiết.

Hai là, xác định đúng nơi cần tái lập, không lập lại đội Dù Kê không chuyên theo từng xóm, cũng không nhất thiết xã nào cũng phải lập mà có thể liên kết các xã lại theo địa bàn phù hợp để có thể tập trung được nguồn lực hỗ trợ cho đội (bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực).

Ba là, phát huy tốt năng lực, kinh nghiệm của những người đã từng là trưởng đoàn, thầy tuồng, diễn viên, nhạc công; Chính quyền cơ sở phải là người tài trợ chính về sân khấu, nhạc cụ, các thiết bị âm thanh, ánh sáng, trang phục diễn viên, những thứ khác giao cho các đoàn thể ở cơ sở hỗ trợ đội vận động các mạnh thường quân; Có chế độ thù lao thỏa đáng cho từng thành viên của đội trong cả thời gian tập dợt và biểu diễn để tạo tâm lý an tâm cho toàn đội./.

Lê Quốc Việt